Chính sách của nhà nước về thị trường bất động sản

Chính sách có liên quan đến tài sản bao gồm trong chính sách đất đai, chính sách về thị trường bất động sản, chính sách tiền tệ, chính sách tiền lương, chính sách phát triển thị trường, chính sách cho người nước ngoài bán hàng … Các chính sách này một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu và cung cấp bất động sản trên thị trường, ảnh hưởng đến giá bất động sản.

Đối với chính sách quản lý đất đai nói chung, và các chính sách liên quan đến giá đất tại Việt Nam được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ 1993 đến 2003 liên quan đến Luật Đất đai Nhà nước ban hành vào năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai (1998 và 2001). Giai đoạn 2 từ năm 2003 đến nay với nhà nước ban hành Luật Đất đai năm 2003 thay thế Luật Đất đai năm 1993.

Chính sách liên quan đến giá đất kể từ năm 1993 – 2003:

Đất đai là một nguồn tài nguyên có giá trị của đất nước, là nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất. Năm 1993 đánh dấu một mốc quan trọng khi Quốc hội thông qua Luật Đất đai và thể chế hoá các quy định về quản lý quyền sử dụng đấtvà nghĩa vụ của người sử dụng đất. Theo đó, Nhà nước đã thành lập đất thuộc sở hữu của quản lý Nhà nước thống nhất và phân bổ đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, tổ chức đoàn thể quần chúng, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài của đất. Ngoài ra, Nhà nước cũng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuêđất trong và ngoài nước gọi là sử dụng đất (Điều 1). Điều đáng chú ý là lần đầu tiên trong quy định của Nhà nước về đất đai đã xác định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Trong đó hộ gia đình, cá nhân giao đất có quyền chuyển đổi,chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất và các quy địnhthuế sử dụng đất.

Có cơ sở để xác định giá đất để tính quyền sử dụng đất, thu giao đất, cho thuê đất, Luật Đất đai năm 1993 phân chia đất đai thành 6 loại đất, dựa trên sử dụng đất như sau (Điều 11):
+ Đất nông nghiệp;

+ Đất lâm nghiệp;

+ Dân cư nông thôn;

+ Urban Land

+ Đối với mục đích cụ thể;

+ Chưa sử dụng.

Goldland – Đào tạo bất động sản chuyên nghiệp nhất !

Căn cứ vào loại đất và điều kiện phát triển kinh tế – phát triển kinh tế của từng địa phương và mỗi lần, chính phủ sẽ khung quy định về giá đất (Điều 12). Mặc dù LuậtĐất đai năm 1993 không quy định các nguyên tắc và tiêu chí là giá đất được xác định bởi các dấu ngoặc giá Chính phủ giao đất và Luật không quy định đối tượngphải nộp thuế sử dụng đất, nhưng bước đầu tiên Nhà nước đã thể chế hoá các quy định về quản lý đất đai, như các đối tượng sở hữu đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, vv …

Năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật bổ sung, sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1993. Mới trong các chính sách liên quan đến giá đất được Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình, cá nhânđối với hình thức ổn định lâu dài, đất không thu sử dụng đất và giao đất có thu sử dụng đất “và xác định đối tượng sử dụng đất sử dụng lệ phí lệ phí sử dụng đất, tiền thuê đất và các đối tượng đất. Tuy nhiên, pháp luật đã được sửa đổi trong
Năm 1998 là không quy định nguyên tắc xác định khung giá đất được giao choChính phủ có trách nhiệm xác định, hoặc dựa vào các môn học khác như LuậtLuật thuế sử dụng đất nông nghiệp, cấp phép của Luật thuế sử dụng đất, vv … để xác định giá đất.

Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, Quốc hội tiếp tục ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, Quốc hội tiếp tục ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, trong đó có một số điều liên quan đến giá đất. Theo quy định tại Điều12 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, sau đó giao cho “Chính phủ được áp dụng khung giá đất cho từng vùng, từng thời điểm, và các nguyên tắc và phương pháp xác định giá đất” và các địa phương dựa trên các nguyên tắc và phương pháp xác định giá đất theo quy định của Chính phủ của mỗi giá đất của địa phương. Điều này là mới so với Luật Đất đai năm 1993.